Loading...
Trang chủ | Tin tức - sự kiện | Quản lý học tập | Văn bản|Tin từ các báo
GIỚI THIỆU
TIN TỨC - HOẠT ĐỘNG
LỊCH CÔNG TÁC
TRANG VÀNG
GIẢI TRÍ
LIÊN KẾT HỮU ÍCH
THÔNG TIN CẦN THIẾT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tìm kiếm
    Từ khóa
Thống kê
   Số người online: 2
   Số lượt truy cập: 165742
Danh ngôn - Tục ngữ
   -“Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người.” (Ngạn ngữ Nga)
   -“Kiến thức chỉ có được qua tư duy của con người.” – A. Einstein (1879–1954)
   -“Hỏi một câu chỉ dốt chốc lát. Nhưng không hỏi sẽ dốt nát cả đời.” (Ngạn ngữ phương Tây)
LIÊN KẾT NHANH


Chuyên đề giáo dục
 
Trần Quang Khải
Năm Đinh Mùi (1247), dưới triều vua Trần Thái Tông, nước ta mở khoa thi để chọn trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa, gọi là Tam khôi. Khoa thi này đã diễn ra một sự kiện khá lạ lùng (mà suốt trong lịch sử khoa cử nước ta không thấy lặp lại) đó là cậu bé Nguyễn Hiền mới 12 tuổi đã đỗ trạng nguyên, Đặng Ma La 14 tuổi đỗ thám hoa và Lê Văn Hưu 17 tuổi đỗ bảng nhãn !

Bấy giờ hoàng tử thứ ba là Trần Quang Khải mới lên 7 tuổi. Tuy sức vóc yếu, mới sinh đã ốm đau quặt quẹo, có lần suýt chết, nhưng hoàng tử rất khôi ngô, cặp mắt tinh anh, sớm bộc lộ một trí óc thông tuệ.

Nhà vua có ý định chọn một trong ba người vừa đỗ Tam khôi vào cung để dạy bảo hoàng tử, bèn đòi trạng nguyên Nguyễn Hiền vào bệ kiến. Vừa gặp trạng, nhà vua rất đỗi ngạc nhiên, thấy vị đứng đầu bảng vàng thi cử của cả nước, chỉ là một đứa trẻ tóc còn để chỏm. Khi nghe vua hỏi học ở đâu, trạng đã hồn nhiên trả lời là tự học lấy, có chữ nào không hiểu thì hỏi sư ông ở chùa làng. Vua thấy trạng quá trẻ, nói năng tự nhiên, chưa biết theo phép tắc lễ nghĩa của triều đình, nên truyền cho trạng về nhà học thêm lễ nghĩa, chờ tuổi trưởng thành sẽ bổ dụng sau.

Vua Trần bèn quyết định giữ bảng nhãn Lê Văn Hưu (1230-1322) ở lại trong cung làm môn khách, dạy dỗ hoàng tử Khải. Hằng ngày ngoài việc chỉ vẽ cho hoàng tử chữ nghĩa trong sách thánh hiền, thầy Hưu còn giảng giải thêm về lịch sử nước nhà, nhất là các chuyện chống xâm lăng, chuyện vua giỏi tôi hiền và cả những chuyện giành giật nhau ngôi báu trong chốn cung đình, dẫn tới sự sụp đổ của những triều vua trước . . .

Có lần, Trần Quang Khải đã hỏi thầy liệu có cách gì để một nước nhỏ như nước ta chống được sự thôn tính của kẻ ngoại bang hùng mạnh ? Thầy Hưu đã trả lời rằng, khi nào vua quan trong triều cùng lòng, nhân dân cả nước đoàn kết, một chí diệt giặc, thì kẻ địch nào cũng bị đánh bại. Câu nói đơn giản đó của thầy đã khắc sâu vào tâm khảm vị hoàng tử trẻ.

Đến tuổi 20, Trần Quang Khải đã trở thành một thanh niên tuấn tú, đầy bản lĩnh, được vua cha tin yêu phong cho làm Tướng quốc. Người anh thứ hai là Trần Khâm được chọn nối ngôi vua. Chỉ riêng người anh cả Quốc Khang là chưa được phong chức tước gì, vì nhà vua cho rằng ông này không đủ tài năng để đảm nhận các việc trọng đại của quốc gia. Tuy vậy, Quốc Khang vẫn vui vẻ, không tỏ ý gì ghen tuông, hiềm khích đối với các em, khiến Quang Khải càng quý trọng anh.

Vùng đất Hoan Diễn (Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ) vốn bao đời được coi là một cứ địa quan trọng, nên vua Trần quyết định cử Tướng quốc Quang Khải vào cai quản. ở nơi xa chốn kinh thành, hằng ngày ngoài công việc nơi phủ đệ, Trần Quang Khải còn có thói quen đi xuống tận các phiên trấn, tiếp xúc với người dân tộc thiểu số, tìm hiểu ngôn ngữ, sinh hoạt của họ, để biết cách cai quản, ứng xử. Nhờ thế, ông đã thông thạo tiếng nói của khá nhiều phiên tộc.

Tháng 4 năm Bính Dần (1266), triều đình lại mở khoa thi chọn bậc Tam khôi, có Bạch Liêu, người đất Nghệ An đỗ trạng nguyên. Ông này thông tuệ, uyên bác khác thường, đọc liền hàng trăm trang sách một lần mà nhớ hết ! Nhưng Bạch Liêu không chịu ra làm quan, trở về quê ở ẩn.Tướng quốc Quang Khải biết tiếng, đem lòng mến mộ, mời Bạch Liêu vào dinh, đãi làm môn khách. Hai người thường đàm đạo với nhau về sách vở, thơ phú rất tâm đắc.

Tháng 3 năm Tân Mùi (1271), Trần Quang Khải được phong làm Thái úy, trở lại Kinh nắm giữ việc nước. Công việc triều đình ở giai đoạn này thật là nặng nề. Trong nước, nạn đói hoành hành. Ngoài nước, quân Nguyên đang chuẩn bị xâm lăng nước ta lần thứ hai. Chúng đã liên tiếp phái sứ giả sang sách nhiễu. Nơi biên cương phía Nam, vùng châu Bố Chính (gồm các tỉnh Bình, Trị, Thiên ngày nay), các phiên thuộc nổi loạn. Vua Trần Thánh Tông quyết thân chinh đem quân đánh dẹp để diệt trừ mối hiểm họa bên trong. Nhà vua chọn Thái uý Trần Quang Khải đi theo, vì biết ông thông hiểu tiếng nói các phiên tộc, có thể tiếp xúc, giao dịch, cảm hóa thu phục được họ bằng chính sách nhân trị.

Trong thời gian Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải theo vua dẹp loạn, ghế Tể tướng bỏ trống. Vừa lúc sứ phương Bắc sang, Thượng hoàng Thái Tông cử Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lên thay, nhưng vốn là người khiêm tốn, thận trọng, Hưng Đạo Vương biết mình với Quang Khải có mối hiềm khích nên không chịu nhận. Nhờ thế, mối bất đồng giữa hai người không bị lấn sâu thêm.

Trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên xâm lược lần thứ hai, có lần Hưng Đạo Vương đóng thuyền ở Vạn Kiếp (Hải Dương), ông đã mời Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải xuống thuyền chơi, rồi hai người cùng tắm rửa, kì cọ cho nhau để xoá bỏ mối hiềm thù cá nhân từ trước, nhằm chung nhau gánh vác việc nước. Điều này, thầy Lê Văn Hưu đã chỉ vẽ cho Chiêu Minh Vương thuở trước.

1. Nhà ngoại giao khôn khéo

Năm 1278, triều đình Mông - Nguyên cử viên Lễ bộ thượng thư Sài Thung cầm đầu đoàn sứ bộ sang nước ta, hạch sách việc Thượng hoàng Trần Thánh Tông nhường ngôi cho vua Trần Nhân Tông, mà không "xin mệnh" chúng, nhằm kiếm cớ đem quân sang xâm lược.

Ngày 13 tháng giêng, năm 1279, Sài Thung đến biên giới nước ta và đòi ta phải lên đón rước.

Triều đình nhà Trần muốn giữ hòa hiếu, đã cho viên quan Đỗ Quốc Kế lên tận biên giới đón đoàn sứ bộ nhà Nguyên. Khi Sài Thung tới gần kinh đô Thăng Long, vua Trần lại cử Thái uý Trần Quang Khải ra tận bờ sông Hồng đón Sài Thung và đưa đoàn sứ giả nhà Nguyên về sứ quán.

Trong buổi đón tiếp, Sài Thung đã đọc chiếu của vua Nguyên Hốt Tất Liệt. Lời lẽ của bài chiếu rất trịch thượng, đòi vua Trần phải đích thân sang chầu. Sài Thung không chịu dự tiệc chiêu đãi ở hành lang trong cung. Mãi đến khi ta tổ chức tiệc đón tại điện Tập Hiền, y mới tới dự. Đúng như trong bài "Hịch tướng sĩ" Hưng Đạo Vương đã mô tả : " ...Nhìn bọn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình, đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ...".

Song do đường lối ngoại giao kiên trì, mềm mỏng, khéo léo của vua Trần và Thái úy Trần Quang Khải, Sài Thung không thể bắt bẻ, tìm cớ để xâm lược nước ta một cách dễ dàng. Một mặt, vua Trần kiên quyết không sang chầu. Mặt khác, nhà vua vẫn tranh thủ giữ hoà bình, cử người chú họ là Trần Di ái, cùng một số quan chức thay mình sang chầu.

Thấy yêu sách và âm mưu của mình thất bại, vua Nguyên Hốt Tất Liệt liền thay đổi kế sách. Hắn cho lập Di ái làm An Nam quốc vương, phong chức cho mấy viên quan đi theo, đặt nước ta làm An Nam tuyên úy ti (như là một tỉnh của đế quốc Mông - Nguyên), rồi sai hơn 1000 quân hộ tống bọn bù nhìn về nước. Hắn cũng cử Sài Thung trở lại làm An Nam tuyên úy sứ đô nguyên soái.

Vua Trần đã đối phó bằng cách ngầm sai quân lên phục kích sẵn ở biên giới, đánh cho toán quân Nguyên hộ tống tan tác, khiến cả bọn Di ái phải chạy về nước. Đồng thời, vua Trần cũng phái sứ giả lên biên giới đón Sài Thung về Thăng Long. Tên sứ Nguyên này vẫn chứng nào tật nấy, hết sức ngạo mạn, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa chính. Lính gác hoàng cung ngăn cản, liền bị hắn lấy roi ngựa quất lên đầu đến chảy máu. Vua Trần vẫn giữ thái độ mềm mỏng, cử Thái úy Trần Quang Khải đón tiếp và vào tận phòng ở của Sài Thung để thăm hỏi. Nhưng Sài Thung tỏ ra kiêu ngạo, vênh váo, nằm khểnh trên giường, không chịu dậy tiếp chuyện...

Nhưng rồi thấy vua Trần xử sự đường hoàng, các sứ nước ta như Chiêu Minh Vương, Hưng Đạo Vương, đều là những người tài giỏi, chữ nghĩa uyên bác, luận thuyết sắc sảo, nên Sài Thung biết không thể bắt nạt được triều đình Đại Việt, buộc phải bớt hống hách, chịu tiếp xúc, trò chuyện, và còn làm thơ để cùng sứ ta xướng họa. Cứ xem bài thơ của Trần Quang Khải làm tiễn Sài Thung về nước, mới thấy đường lối ngoại giao thời Trần khôn khéo biết chừng nào! Bài thơ nguyên văn bằng chữ Hán :

Tống quân quy khứ độc bàng hoàng
Mã thủ xâm xâm chỉ đế hương
Nam Bắc tâm tinh huyền phản bái
Chủ tân đạo vị phiếm li trường
Nhất đàm tiếu cảnh ta phân duệ
Cộng xướng thù gian tích đối sàng
Vị thẩm hà thời trùng địch diện
Ân cần ác thủ tự huyên lương.


Dịch thơ :

Ông về, tôi tiễn dạ không yên
Hướng cũ xăm xăm ngựa ruổi liền
Nam Bắc tình theo cờ sứ cuộn
Khách - nhà li biệt rượu đầy thêm
Nói cười chốc đã chia đôi ngả
Xướng họa giường kề trống một bên
Chẳng biết bao giờ còn gặp lại
Cầm tay trao đổi chuyện hàn huyên.


2. Người anh hùng trận Chương Dương

Cuối năm 1282, đầu năm 1283, vua Nguyên Hốt Tất Liệt sai viên dũng tướng Toa Đô đem quân sang đánh Chiêm Thành để lấy nước này làm bàn đạp tấn công Đại Việt. Nhân dân Chiêm Thành đã chiến đấu hết sức anh dũng, nên tuy kinh đô Trà Bàn của họ bị chiếm, song quân Nguyên vẫn không thể thôn tính được nước Chiêm.

Vua Nguyên bèn mượn cớ đưa chiếu thư đòi hành quân qua lãnh thổ nước ta và bắt ta phải cung cấp quân lính, vũ khí, lương thực cho chúng đánh Chiêm Thành. Vua Trần đã dứt khoát từ chối. Thế là, đầu năm 1285, quân Mông - Nguyên dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan, đã chia làm hai mũi ào ạt vượt biên giới vào nước ta. Quân Toa Đô không chiếm được Chiêm Thành, cũng được lệnh chuyển hướng đánh thọc vào Đại Việt từ phía Nam ra, để cùng với Thoát Hoan từ phía Bắc, làm thành một gọng kìm, kẹp lực lượng quân ta vào giữa.

Từ năm Nhâm Ngọ (1282), Trần Quang Khải được phong làm Thượng tướng Thái sư. Thấy rõ vùng Hoan Diễn là cứ địa quan trọng và quân giặc muốn chiếm cứ vùng này nên vua Trần đã cử Trần Quang Khải một lần nữa đem quân vào Nghệ An, phối hợp với lực lượng quân ta do Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chỉ huy đang đóng chốt ở đó.

Thái sư Trần Quang Khải đang trên đường hành quân vào, thì Toa Đô đã đánh ra Nghệ An. Trước sức tấn công ồ ạt của địch, Trần Nhật Duật chống cự không nổi, đành rút lui. Địch bèn cho tên tướng Giảo Kỳ đem một cánh quân tiến nhanh ra Bắc.

Ở Thanh Hóa, từ trước, vua Trần đã sai Chương Hiến hầu Trần Kiện đem trên một vạn quân đóng giữ. Nhưng Trần Kiện hèn nhát không dám giao chiến, đã đem toàn bộ quân sĩ, gia quyến đầu hàng giặc, khiến cho lực lượng của bọn Toa Đô càng mạnh thêm.

Trần Nhật Duật lui quân ra Thanh Hóa, lập phòng tuyến ở khu vực núi Vân Trinh, phía Bắc sông Yên, nay thuộc địa phận huyện Quảng Xương. Các trận chiến đấu ở đây đã diễn ra rất ác liệt. Nhưng thế giặc quá mạnh, buộc Trần Nhật Duật phải lui quân về vùng Bố Vệ (nay thuộc xã Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa), bố trí trận địa để kìm bước tiến quân của địch. Nơi đây, quân ta đã phối hợp với nhân dân địa phương chống trả quyết liệt. Bia chùa Hương Phúc ở huyện Quảng Xương, dựng năm 1312, còn ghi lại cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân thôn Yên Duyên, do Lê Mạnh cầm đầu, khiến quân giặc không còn đường rút chạy. Nhưng cuối cùng, địch cũng chọc thủng được các tuyến phòng vệ của quân dân ta và ồ ạt tiến ra Bắc.

Thái sư Trần Quang Khải vừa đến địa đầu Thanh Hóa, được tin trận tuyến Bố Vệ bị vỡ, liền cho lập ngay phòng tuyến Phú Tân, kéo dài suốt một dải đất thuộc các huyện Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc, để ngăn chặn bước tiến của địch.

Lúc này, viên tướng Toa Đô đã hợp quân với Giảo Kỳ, lại được tên Việt gian Trần Kiện đem quân đi trước dẫn đường, nên chúng ồ ạt tấn công vào phòng tuyến của ta ở Phú Tân. Trần Quang Khải đã chỉ huy quân sĩ đánh trả địch hết sức ngoan cường. Nhân dân địa phương khắp vùng cũng đem hết nhân vật lực hợp sức với quân triều đình chiến đấu. Chuyện kể có một phú hộ địa phương là Mai Phúc Trường, sau khi được tham dự hội nghị Diên Hồng lịch sử, do vua Trần tổ chức ở kinh đô Thăng Long, vào ngày mồng 5 tháng 2 năm 1285, đã trở về tập hợp con cháu, bà con trong vùng, sát cánh cùng quân triều đình đánh trả địch rất gan dạ. Ngày nay, nơi đây vẫn còn nhiều địa danh, chứng tỏ trận đánh Phú Tân đã diễn ra hết sức ác liệt như khu Mả Hồ, là nơi chôn xác giặc, Mả Cháy là nơi doanh trại giặc bị đốt, chỗ giặc bị giết, máu chảy đỏ sông gọi là Đò Thắm...

Ở vùng Ngã Ba Bông, nằm giữa huyện Vĩnh Lộc và Thiệu Hoá bây giờ còn có địa danh là Mã Đề Nê (Ngựa lấm bùn), nơi diễn ra trận ác chiến giữa quân ta và quân Toa Đô. Trên sông Mă, đối diện với cửa Hới, vùng xã Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn ngày nay, có một gò đất nhân dân vẫn quen gọi là "Gò Đức ông". Tương truyền đây là chỗ Thái sư Trần Quang Khải dùng làm sở chỉ huy cuộc chiến đấu nói trên.

Sau khi phòng tuyến Phú Tân bị vỡ, Trần Quang Khải cho quân rút lui, thừa thế, bọn Toa Đô, Giảo Kỳ đánh thốc ra Trường Yên, Ninh Bình.ở mặt trận phía Bắc, quân Thoát Hoan đã chiếm được kinh đô Thăng Long. Hưng Đạo Vương rút quân từ Vạn Kiếp về, cùng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải từ Thanh Hoá ra, hộ tống vua Trần lui về Thiên Trường, Nam Định.

Để phá được gọng kìm hết sức nguy hiểm của địch, triều đình nhà Trần đã tiến hành cuộc rút lui, thoát khỏi vùng Quảng Ninh, Hải Phòng. Tướng giặc Thoát Hoan liền cho quân đuổi theo rất gấp. Vua Trần dùng kế nghi binh, rồi bất ngờ dùng thuyền vòng sau lưng địch, rút vào cứ địa Thanh Hoá. Đây là cuộc rút lui hết sức thần kì, vừa làm cho địch bất ngờ, bị động không kịp ứng phó, vừa chủ động tập kết quân tướng đến một hậu cứ vững chắc, để chuẩn bị lực lượng tiếp tục cuộc kháng chiến.

Nguyên sử chép rằng, bấy giờ vua Trần chỉ còn 4 chiếc thuyền, Hưng Đạo Vương còn 3 chiếc và Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải còn 80 chiếc.

Phải sau một thời gian, Thoát Hoan mới phát hiện được triều đình nhà Trần đã vào Thanh Hoá. Hắn liền ra lệnh cho Toa Đô từ Ninh Bình quay lại tấn công. Nhưng đội quân này lương thực thiếu thốn, hết sức mệt mỏi. Biết thế, Thoát Hoan phải cử thêm Ô Mã Nhi đem 1300 quân và 60 chiến thuyền vào tiếp ứng, hòng thực hiện ý đồ tiêu diệt bộ chỉ huy đầu não của ta.Vua Trần cùng với Tiết chế Hưng Đạo Vương, Thái sư Chiêu Minh Vương, được núi rừng xứ Thanh hiểm trở, nhân dân xứ Thanh che chở, đùm bọc, khiến bọn giặc Nguyên không thể thực hiện được mưu đồ của chúng. Trái lại, lực lượng quân ta được tập kết, bổ sung và lớn mạnh rất nhanh. Ngày nay ở mấy xã Thạch Sơn, Thạch Bình (huyện Thạch Thành), Vĩnh An (huyện Vĩnh Lộc), vẫn còn dấu tích vua Trần đóng quân thuở đó như giếng Hoàng đế, hai khúc gỗ lim bắc trên động Kim Sơn tương truyền là nơi vua Trần nằm (?) .

Trong thời gian này, ở phía Bắc, quân dân ta khắp nơi đã liên tục tấn công, quấy rối các đồn trại địch, khiến chúng phải đối phó căng thẳng, mất ăn mất ngủ. Ví như tháng 5-1285, Thoát Hoan sai quân hộ tống bọn Trần Kiện, Trần Tú Hoãn, Trần ích Tắc... về Bắc Kinh. Khi chúng đến Lạng Sơn liền bị quân ta phối hợp với dân binh địa phương đón đánh, Trần Kiện bị bắn chết, còn cả bọn chạy tan tác mỗi tên một ngả.

Sau ba tháng củng cố lực lượng, đến tháng 6-1285, thấy thời cơ thuận lợi, Tiết chế Hưng Đạo Vương và Thái sư Trần Quang Khải, liền từ Thanh Hoá đem quân vòng qua các điểm chốt giữ của Toa Đô, tiến ra Bắc, thực hiện kế hoạch cắt đôi lực lượng kẻ địch. Thời gian này, các phòng tuyến của Thoát Hoan dọc theo sông Hồng cũng bị ta tấn công liên tiếp...

Sau chiến thắng A Lỗ do Hưng Đạo Vương chỉ huy, tiêu diệt cứ điểm đầu tiên của quân Mông - Nguyên trên phòng tuyến sông Hồng và chiến thắng Hàm Tử (thuộc Khoái Châu, Hưng Yên), do Trần Nhật Duật chỉ huy, thì Trần Quang Khải đã cùng với các tướng lĩnh khác như Trần Quốc Toản, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền... mở cuộc tấn công đánh bại địch ở bến Chương Dương, thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây bây giờ. Đây là trận thắng lớn vào bậc nhất, sau đó quân ta thừa thế tấn công giải phóng kinh đô Thăng Long và giành nhiều thắng lợi liên tiếp, chém đầu Toa Đô, bắn chết Lý Hằng..., quét sạch bọn xâm lược Mông - Nguyên ra khỏi đất nước .

3. Một thi sĩ tài ba

Thế là giặc Mông - Nguyên thất bại thảm hại lần thứ hai. Tên thống tướng giặc, con vua Nguyên là Thoát Hoan chui vào ống đồng trốn chạy mới thoát chết. Thái sư Trần Quang Khải cùng với các tướng lĩnh ca khúc khải hoàn, đón vua Trần trở về Thăng Long. Trong chuyến phò giá vua về kinh, cảm kích trước chiến thắng hào hùng của cả dân tộc, Trần Quang Khải đã sáng tác bài thơ bất hủ, đến nay nhiều người trong số chúng ta đã thuộc lòng. Bài thơ bằng chữ Hán, dịch Nôm như sau :

Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu nỗ lực
Vạn cổ thử giang san


Tạm dịch :

Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu


Sau cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ ba thất bại, vua Nguyên Hốt Tất Liệt hết sức cay cú, một mặt cử bọn Lưu Đình Trực, Lý Tư Diễn sang sứ nước ta, đưa yêu sách đòi vua Trần sang chầu và trả hết tù binh của chúng, mặt khác hắn ra lệnh chuẩn bị gấp, để tiến hành cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ tư.

Để giữ hòa bình, ngăn chặn cuộc chiến tranh mới, vua Trần đã sai Thái sư Trần Quang Khải đi đón bọn sứ Nguyên vào cung và tiếp đãi chúng khá long trọng, còn các yêu sách ta đều cự tuyệt. Song triều đình Mông - Nguyên chưa kịp động binh thì Hốt Tất Liệt chết, dẫn đến sự tan rã hoàn toàn âm mưu xâm lược Đại Việt !

Khi đất nước đã hoàn toàn sạch bóng quân thù, Thái sư Trần Quang Khải không được khỏe. ông xin về tĩnh dưỡng ở Phúc Hưng viên, nơi quê hương Thiên Trường, Nam Định. Hằng ngày, ông vẫn lấy việc đọc sách, ngâm thơ, tưới cây, ươm hoa làm vui. ông đã sáng tác tập thơ "Lạc Đạo" (Đạo vui), nhưng đến nay rất tiếc chỉ còn lại mấy bài. Đọc thơ ông, chúng ta thấy phảng phất những hoài niệm về một giai đoạn chống ngoại xâm đầy hào hùng của dân tộc, mà trong thời trai trẻ của mình, ông đã có phần đóng góp xứng đáng.

Trong bài "Cảm xuân", vị danh tướng, nhà ngoại giao, thi sĩ Trần Quang Khải đã nói lên nỗi lòng mình bằng những câu thơ đầy cảm khái sau :

...Dũng khí ngày nào rày vẫn có
Quất ngang ngọn gió đọc thơ chơi !


Hoặc :

...Tiêu khiển nay nhờ ba chén rượu
Vỗ thanh gươm cũ nhớ non xưa


Một lần trở lại bến đò Lưu Gia, nay thuộc làng Lưu Xá, huyện Hưng Nhân, Hải Dương (nơi vua Lý Huệ Tông chạy loạn, gặp con gái Trần Lý rồi lấy làm vợ và nhờ thế họ Trần mới dấy nên cơ nghiệp), Trần Quang Khải hồi tưởng lại lần phò giá vua Trần qua đây. ông đã cảm hứng sáng tác bài thơ "Lưu gia độ" (Bến đò Lưu Gia), nguyên văn chữ Hán, dịch thơ Nôm như sau :

Lưu Gia xanh ngắt một trời cây
Thuyền ngự xuôi dòng trước ghé đây
Tháp cũ, đình xưa làn nước chiếu
Đền hoang, mộ cổ dãy lân bày
Thái bình ngàn dặm cơ đồ rộng
Lý đại hai trăm vận mệnh dài
Trở lại khách thơ đầu đã bạc
Trời thanh nước gợn bóng hoa mai

(Bản dịch Hoàng Việt thi văn tuyển)

Công lao của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, đã được vua Trần Thánh Tông đánh giá rất cao, qua hai câu thơ nhà vua tặng ông, khi ông mới ở độ tuổi bốn mươi :

Công danh một thủa còn bao kẻ
Trung hiếu hai triều chỉ một ông

(Huệ Chi dịch thơ Nôm)

Thông tin khác
LỊCH CÔNG TÁC THÁNG
Kế hoạch tháng 10-2011-2012
[10/4/2011 8:28:29 PMleconghung.thptcl]
Kế hoạch tháng 9-2011-2012
[9/30/2011 7:01:28 PMleconghung.thptcl]
Kế hoạch tháng 8-2011-2012
[9/27/2011 10:26:04 AMleconghung.thptcl]
Kế hoạch tháng 6-7
[6/5/2011 6:11:09 AMleconghung.thptcl]
Kế hoạch tháng 05/2011
[5/15/2011 9:57:04 PMleconghung.thptcl]
Kế hoạch tháng 04/2011
[4/3/2011 8:28:58 PMleconghung.thptcl]
Kế hoạch tháng 03/2011
[2/25/2011 9:44:42 PMleconghung.thptcl]
Kế hoạch tháng 01/2011
[1/5/2011 10:03:41 AMleconghung.thptcl]
Kế hoạch tháng 12/2010
[11/28/2010 8:43:32 PMleconghung.thptcl]
Kế hoạch tháng 11/2010
[11/1/2010 8:14:36 PMleconghung.thptcl]
Kế hoạch tháng 10/2010
[10/8/2010 8:29:10 PMleconghung.thptcl]
Kế hoạch tháng 9/2010
[9/1/2010 7:18:28 PMleconghung.thptcl]
Kế hoạch tháng 8/2010
[8/10/2010 10:20:47 PMleconghung.thptcl]
Danh mục văn bản
Tin xem nhiều nhất
Tin mới nhất
DANH MỤC THƯ VIỆN
   QLHS Tp Hồ Chí Minh
   Kết quả TS ĐHCĐ của từng học sinh
   Kết quả TS ĐHCĐ theo đơn vị
   QLHS Ver 2112010
   Tai liệu chứng khoán 2
   Tài liệu chứng khoán
   Số liệu HSG THCS cấp tỉnh 5 năm
   Dữ liệu TN THPT 2010
   Một số mẫu giáo án đẹp
   Bộ phần mềm tạo trò chơi ô chữ
VĂN BẢN TỪ SỞ
LIÊN KẾT NHANH

Bản quyền thuộc Trường THPT Cam Lộ, Quảng Trị
Địa chỉ: TT Cam Lộ, Huyện Cam Lộ, Quảng Trị Email : thptcamloqt@quangtri.edu.vn
Phát triển: Nguyễn Phong-Hồ Sỹ Anh - Tel:0905906111 Email:admin@quangtri.edu.vn
Các bài viết của giáo viên gửi về mail Leconghungthptcamlo@gmail.com